Thứ Năm, 31 tháng 5, 2018

LỤC THƯ - 6 CON ĐƯỜNG HÌNH THÀNH CHỮ HÁN

Tìm hiểu 6 cách hình thành chữ Hán tại lớp Tiếng Hoa toàn diện cấp tốc tại Tân Phú.




六书—汉字的基础—学汉字的人应该把握
"Lục thư" là sáu nguyên tắc mà người xưa giải thích về cấu trúc và cách sử dụng các ký tự tiếng Hán. Từ "Lục thư" lần đầu tiên được thấy trong "Chu lễ - Địa quan - Bảo thị". Hứa Thận, một học giả của triều đại Đông Hán, đã đặt tên sáu nguyên tắc này là tượng hình, chỉ sự, hội ý, tượng thanh, chuyển chú và giả tá.
luc-thu1.jpg
chu-tuong-hinh.jpg
01
Tượng hình
(象形)
Là phép vẽ hình tượng của các vật để tạo nên chữ, tùy theo thể mà thêm bớt. Đây là phép lập chữ sơ khai nhất của các loại chữ tượng hình. Chữ tượng hình giữ một vai trò quan trọng trong văn tự Hán. Khoảng 10% tổng số các nét trong chữ Hán hiện đại có nguồn gốc từ các hình tượng này.
Ví dụ:
日 Nhật = mặt trời : nguyên thủy là hình tròn, trong có lằn sáng nhấp nháy là chữ nhất 一, một nét thuộc dương. Mặt trời còn được gọi là thái dương.
月 Nguyệt = mặt trăng : nguyên thủy là hình mặt trăng khuyết, bên trong có chữ nhị 二, hai nét thuộc âm. Mặt trăng cũng gọi là thái âm.
人 Nhân = người : là hình người đứng dang hai chân.
木 Mộc = cây : là hình một cái cây có gốc, rễ, thân, cành
v.v...
02
Chỉ sự
(指事)
chu-chi-su.jpg
Là phép chỉ vào sự vật mà viết ra chữ, nhìn mà xét ra ý.
Ví dụ:
上 Thượng = ở trên : lấy nét ngang dài làm mốc, nét ngang ngắn ở trên chỉ một vị trí ở trên, nét sổ chỉ sự vận chuyển từ dưới lên trên.
下 Hạ = ở dưới : nét ngang dài làm mốc, nét ngang nhỏ ở dưới chỉ một vị trí ở dưới, nét sổ chỉ sự vận chuyển từ trên xuống dưới.
本 Bản (bổn) = gốc cây : nét ngang nhỏ phía dưới chữ mộc chỉ rõ đó là phần gốc cây.
末 Mạt = ngọn cây : nét ngang phía trên chữ mộc chỉ rõ đó là phần ngọn cây.
v.v...
Chữ chỉ sự rất dễ nhầm với chữ tượng hình và chữ hội ý. Nên trong lục thư, số lượng chữ thuộc về dạng chỉ sự không nhiều lắm.
03
Hội ý
(會意)
Là hợp ý của từng phần lại để hình thành nghĩa mới.
Ví dụ:
武 Vũ (hay Võ) = vũ / võ (lực). Lấy uy sức mà phục người, gọi là vũ. Chữ này gồm chữ 止 chỉ = dừng lại + 戈 qua = ngọn giáo => dùng vũ ngăn cấm điều bạo ngược, chỉnh đốn sự rối loạn, thôi việc can qua.
信 Tín = lòng tin; tin tức : gồm chữ 人nhân = người + 言 ngôn = lời nói => Lời người nói hẳn có căn cứ, có thể tin được; lời người đến báo cho biết
林 Lâm = rừng. Hai chữ 木 mộc => ngụ ý nhiều cây hợp lại tạo thành rừng.
v.v…
04
Chuyển chú 
(轉注)
Là mượn từ chữ có sẵn, đem thay hình đổi dạng thành chữ khác, nhưng có nghĩa tương cận (gần gũi)
Ví dụ:
長 Trường = dài / Trưởng = lớn (trưởng thành). Do chữ長 trường = dài đọc thành “trưởng”. Hai âm “trường” / “trưởng” và hai nghĩa “dài” / “lớn” tuy đã chuyển biến nhưng cùng một ý.
少 Thiểu = ít / Thiếu = nhỏ tuổi. Do chữ少 “thiểu” chuyển chú đọc thành “thiếu”. Hai âm “thiểu” / “thiếu” và hai nghĩa “ít” / “nhỏ” tuy đã chuyển biến nhưng cùng một ý.
中 Trung = trúng, đúng / ở giữa, trong. Vốn do chữ中 “trúng” chuyển chú thành “trung”. Hai âm “trúng”, “trung” và hai nghĩa “bắn trúng”, “ở giữa” tuy đã chuyển biến nhưng vẫn cùng một ý = khi bắn trúng, mũi tên ghim vào giữa cái bia.
05
Giả tá
(假借)
Giả tá có thể hiểu là mượn sai. Vốn là không có chữ, mượn thanh để gửi sự, biến thành âm và nghĩa xa lạ, không có quan hệ duyên do suy diễn.
Ví dụ:
烏 Ô = con quạ đen ==> được mượn làm chữ “ô” trong烏乎 ô hô = than ôi.
令 Lệnh = như trong chữ “mệnh lệnh”, “hiệu lệnh” ==> được mượn làm chữ “lệnh” trong “huyện lệnh”.
說 Duyệt = vui. Do chữ 說 thuyết = nói, giả tá đọc là “duyệt”.
Tiểu chú: Vẫn có một chữ悅 cũng đọc là “duyệt”, đồng nghĩa là “vui lòng, đẹp ý”
般若 Bát Nhã = trí huệ thanh tịnh. Do chữ 般 Ban = xoay thuyền về + chữ 若 nhược (còn một âm là “nhạ”) giả tá đọc Bát Nhã.
Tiểu chú: Có lẽ vì vậy mà có người dịch một môn võ công cao thâm của Phật môn là Ban Nhược thần công chăng?
道 đạo = con đường, sau giả tá thành đạo trong “đạo lý”, “đạo đức”
v.v…
06
Hình thanh
(形聲)
Hài thanh còn gọi là Hình thanh (形聲), hay Tượng thanh (象聲 ). Là lấy sự làm tên, mượn thanh để hợp thành. Đây là phép thông dụng nhất để hình thành Hán tự. Chữ hài thanh gồm một phần chỉ nghĩa, một phần chỉ thanh. Vị trí của hai phần này thay đổi tùy theo chữ, chia thành 8 loại:

6.1 Nghĩa bên trái, thanh bên phải:
江 Giang = sông (thường dùng ở miền Hoa Nam). Gồm chữ 水 Thủy + 工 Công
河Hà = sông (thường dùng ở miền Hoa Bắc). Gồm chữ 水 Thủy + 可 Khả
沐 Mộc = tắm gội. Gồm chữ水 Thủy + 木 Mộc
銅 Đồng = một loại kim loại (ký hiệu hóa học là: Cu). Gồm chữ 金 Kim = kim loại + 同 đồng = cùng nhau.

6.2 Nghĩa bên phải, thanh bên trái:
鴉 (鸦) Nha = con quạ khoang. Gồm 牙Nha + 鳥 Điểu (鸟)
鳩 (鸠) Cưu = con tu hú. Gồm 九 Cửu (số chín) +鳥 Điểu (鸟)
鴿 (鸽) Cáp = chim câu. Gồm 合 Hạp (hợp, có một âm đọc là cáp = lẽ) +鳥 Điểu (鸟)
郡 Quận = một khu đất chi theo địa giới hành chính. Gồm君Quân + 邑 Ấp

6.3 Nghĩa ở trên, thanh ở dưới:
芳 Phương = cỏ thơm. Gồm草 Thảo (thủa xưa viết là艸) +方 Phương
筒 Đồng = ống tre, ống trúc. Gồm 竹 Trúc +同 Đồng
藻 Tảo = loài rong, tảo, các loài thực vật dưới nước. Gồm草 Thảo +澡 Táo (tháo) = tắm rửa

6.4- Nghĩa ở dưới, thanh ở trên:
婆 Bà = phụ nữ lớn tuổi. Gồm 女 Nữ + 波 Ba (sóng)
勇 Dũng = mạnh. Gồm 力 Lực + 甬 Dũng
帛 Bạch = lụa dệt bằng tơ trần. Gồm 巾Cân = khăn + 白Bạch

6.5 Nghĩa ở ngoài, thanh ở trong:
固 Cố = vững bền. Gồm 囗 Vi = vây quanh + 古 Cổ
圃 Phố = vườn trồng rau. Gồm囗 Vi = vây quanh + 甫 Phủ
閣 (阁) Các = gác. Gồm門(门) Môn = cửa, nhà + 各 Các

6.6 Nghĩa ở trong, thanh ở ngoài:
問 (问) Vấn = hỏi. Gồm 門(门) Môn + 口 Khẩu
齎 (赍) Tê = đem cho. Gồm 貝 (贝) Bối = của quý + 薺 Tề

6.7 Nghĩa ở giữa, thanh ở hai bên:
辮 (辫) Biện = bện, gióc, đan (vd: Biện tử = đuôi sam). Gồm 糸 (纟) Mịch = sợi tơ ở giữa chỉ nghĩa, hai chữ 辛Tân ở hai bên là chữ Biện 釆 hay 辨 chỉ thanh.
辯 (辩) Biện = biện luận. Gồm 言 (讠) Ngôn = lời nói ở giữa chỉ nghĩa, hai chữ 辛Tân ở hai bên là chữ Biện 釆 hay 辨 chỉ thanh.

6.8 Nghĩa ở hai bên (hoặc ở trên, hoặc ở dưới), thanh ở giữa:
術 (术) Thuật = nghề (thuật sỹ), phương pháp, đường đi trong ấp. Gồm 行 Hành = đi, thi hành chỉ nghĩa + 朮 Truật chỉ thanh (tr chuyển thành th).
裏 Lý = áo lót. Gồm 衣 Y = áo + 里 Lý
Tiểu chú: Mạc Tiếu nghĩ chữ 里 ở đây không đơn thuần chỉ thanh, mà còn cả chỉ nghĩa là "bên trong" nữa: cái áo mặc bên trong.

Từ 6 nguyên tắc hình chữ Hán này, chúng ta có đến 85.568 chữ Hán (theo thống kê trong cuốn Trung Hoa Tự Hải). Với con số choáng ngộp này, nhiều người tự hỏi chữ Hán như biển cả học đến khi nào mới hết? Chưa kể một số chữ rất khó, hôm nay học mai đã quên rồi. Điều này đã làm nản chí rất nhiều người học tiếng Hán. Tuy nhiên, trong tiếng Hán, người ta rút ra 214 chữ cơ bản để hình thành nên tất cả chữ Hán, được gọi là bộ thủ. 214 bộ thủ này cũng hình thành theo 6 nguyên tắc trên. Như vậy, nếu thông hiểu 214 bộ thủ này chúng ta sẽ có thể phát triển khối lượng chữ Hán trong đầu chúng ta rất nhanh. Việc ghi nhớ chúng là hoàn toàn có thể thực hiện được nếu chúng ta có phương pháp ghi nhớ và hình dung các chữ Viết. Hãy liên hệ với chúng tôi để được tư vấn những khóa học và phương pháp học tiếng Hoa hiệu quả, cũng như nhận được những tại liệu tiếng Hoa hữu ích giúp bạn chinh phục ngôn ngữ được nhiều người sử dụng nhất trên thế giới này.
Nhấn vào đây để liên hệ và nhận hỗ trợ tư vấn!

Song ngữ Merlion

English & Chinese

Chúng tôi sẽ giúp bạn nhận thấy rằng học ngoại ngữ thật dễ dàng và thú vị.

0 comments:

Đăng nhận xét